Một số bài viết, chuyện kể về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (số 1)


1- BÀI VIẾT: SÁNG NGỜI TƯ TƯỞNG CỦA BÁC VỀ ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA

(Phòng Lao động Thương binh & Xã hội, trình bày ngày 22/5/2017)

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, sinh thời Người luôn dành tình cảm, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ mọi người, nhất là đối với những người có công với nước, với dân.

Với tình cảm chân thành, lòng biết ơn đối với thương binh, liệt sĩ. Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Bác đã ký Sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Cũng trong năm 1947, trong khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào giai đoạn quyết liệt, Người đã chỉ thị chọn một ngày trong năm làm "Ngày Thương binh" và tại Hội nghị trù bị gồm đại biểu của các cơ quan, các ngành ở Trung ương, khu và tỉnh đã họp ở Phú Minh, Đại Từ, Thái Nguyên nhất trí lấy ngày 27/7 làm "Ngày Thương binh toàn quốc"; đến tháng 7 năm 1955, ngày 27/7 được đổi thành "Ngày Thương binh, liệt sĩ" và được tổ chức hàng năm trên cả nước.

Nguồn gốc làm nên tư tưởng về sự kính trọng, lòng biết ơn vô bề bến, sự quan tâm, đền ơn đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ những người có công với đất nước chính là chủ nghĩa nhân văn – tình thương yêu con người của Bác. Tình thương yêu con người ở Bác là tình cảm quý trọng, quan tâm và chăm lo cuộc sống của con người, của nhân dân và đến hôm nay tư tưởng của Bác Hồ kính yêu đối với thương binh, liệt sĩ không chỉ nâng cao nhận thức cho các thế hệ tiếp sau mà còn được phát huy mạnh mẽ trong cuộc sống hằng ngày, bằng những công việc cụ thể đối với những người đã "làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do". "Ngày Thương binh – Liệt sĩ" hằng năm thật sự thể hiện những nghĩa cử cao đẹp, sự tri ân, tôn vinh đối với những người không tiếc máu, xương vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ khi có "Ngày Thương binh – Liệt sĩ" do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đến nay, phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" theo tấm gương đạo đức của Người đã phát triển sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân. Phong trào đã và đang tạo luồng sinh khí mới, tạo nên sự đồng thuận cao trong xã hội, cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, phồn vinh đúng như Người hằng mong muốn.

Chiến tranh đã lùi xa hơn 42 năm qua, đã để lại cho quê hương Tây Hòa 2.279 Liệt sĩ, 5.681 người có công với cách mạng; 464 thương binh, 136 bệnh binh, 679 người có công giúp đỡ cách mạng, 401 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ngoài ra, còn có 590 người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; 84 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, 1.584 người được hưởng chế độ theo Quyết định 290 của Thủ tướng Chính phủ, 1.312 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến...

 Xác định chính sách "Đền ơn đáp nghĩa" của Đảng và Nhà nước ta là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở. Trong thời gian qua, Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện luôn tranh thủ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện, thực hiện tốt chức năng tham mưu quản lý Nhà nước trên lĩnh vực chính sách ưu đãi đối với người có công: tổ chức triển khai kịp thời, đầy đủ các chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước, chi trả tiền trợ cấp hàng tháng đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng; triển khai Qũy "Đền ơn đáp nghĩa", nhận chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, đưa ngưới có công đi điều dưỡng, sửa chữa các Nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm, hỗ trợ kinh phí xây dựng và sữa chữa nhà ở; tổ chức thăm, tặng quà nhân các dịp Lễ, Tết, thăm viếng khi từ trần,..

Phát huy những kết quả đạt được, đồng thời kịp thời khắc phục, chấn chỉnh những thiếu sót trong thời gian qua, trong thời gian đến toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân viên Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện nguyện nổ lực, phấn đấu ra sức học tập, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác thực hiện tốt hơn nữa chức năng tham mưu quản lý Nhà nước trên lĩnh vực chính sách ưu đãi người có công trên địa bàn huyện, góp phần giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau, xây dựng quê hương Tây Hòa của chúng ta ngày một giàu đẹp, văn minh.

 

2- BÀI VIẾT: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

(Đài truyền thanh huyện trình bày vào ngày 19/6/2017)

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt viên gạch đầu tiên cho nền báo chí cách mạng Việt Nam với việc tổ chức và xuất bản tờ Thanh niên từ những năm 1925. Bác đã đi xa nhưng đã để lại cho chúng ta một di sản báo chí quý báu với những giá trị to lớn về nội dung, tư tưởng góp phần dẫn dắt nền báo chí cách mạng nói chung, người làm báo nói riêng phát triển và trưởng thành.

Trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Bác luôn coi báo chí và những người làm báo là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng cuộc sống mới cho nhân dân. Cuộc đời hoạt động của Người không tách rời hoạt động báo chí. Người làm báo là làm cách mạng và để làm cách mạng. Bác cho rằng hoạt động báo chí thực chất là hoạt động chính trị, báo chí là vũ khí đấu tranh cách mạng nên báo chí cách mạng trước tiên phải mang tính chiến đấu, tính định hướng và tính quần chúng nhằm tuyên truyền, cổ động, huấn luyện, giáo dục và tổ chức quần chúng để đưa quần chúng đến mục đích chung.

Bước vào thời kỳ hòa bình, xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay, báo chí cách mạng tiếp tục là vũ khí sắc bén trên mặt trận văn hóa – tư tưởng, giúp nhân dân trong và ngoài nước hiểu rõ về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam; đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, thù địch; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè thế giới, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chức năng, nhiệm vụ, tính chất của báo chí cách mạng; về vai trò, nghĩa vụ, đạo đức của người làm báo; về nghệ thuật trong "cách viết" để làm nên một tác phẩm báo chí đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người chúng ta phải xây dựng đội ngũ những người làm báo trong tình hình hiện nay, đó là xây dựng lập trường chính trị vững vàng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và ngoại ngữ; giáo dục đạo đức nghề nghiệp và rèn luyện tác phong, đạo đức, lối sống. Đặc biệt, phải khắc ghi lời Bác dặn: viết cho ai?, viết để làm gì? và viết như thế nào.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác về báo chí cách mạng. Thời gian qua, mỗi viên chức, nhân viên Đài Truyền thanh huyện Tây Hòa thấm nhuần tư tưởng báo chí cách mạng, viết tin, bài luôn hết sức cẩn thận về nội dung và cách viết, viết ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu. Vận dụng sáng tạo những bài viết của Người về báo chí vào hoạt động tác nghiệp của mình để xứng đáng là chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa của Đảng; mỗi phóng viên, biên tập viên đã xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, ra sức học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng viết để kịp thời chuyển tải thông tin, xây dựng các chuyên mục, các sự kiện chính trị nổi bậc của huyện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng  - an ninh, công tác xây dựng Đảng.. đến thính giả nghe đài trong huyện. Bên cạnh đó, chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các hoạt động ở cơ sở, phổ biến các kiến thức khoa học, kỷ thuật áp dụng vào sản xuất, chăn nuôi góp phẩn đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

3- CHUYỆN KỂ: TỪ ĐÔI DÉP ĐẾN CHIẾC Ô TÔ (được trích trong cuốn 117 mẫu chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng của Ban Tuyên giáo Trung ương – Hà Nội năm 2007

(Do cơ quan Hội CTĐ huyện trình bày vào ngày 31/7/2017),

tải toàn nội dung chuyện kể)

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Người là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách của dân tộc.

Cuộc đời và sự nghiệp của Người không những gắn liền với những trang sử vẻ vang của dân tộc mà những câu chuyện đời thường từ nếp sống rất đổi giản dị, gần gũi, những câu chuyện tuy rất giản đơn của Bác nhưng chứa đựng ý nghĩa thật lớn lao, cùng với những bài học quý giá đã đi sâu vào lòng người của biết bao thế hệ...

Nhân buổi chào cờ đầu tuần sáng nay, được sự phân công của cơ quan Hội Chữ thập đỏ huyện, tôi xin đọc mẫu chuyện “Từ đôi dép đến chiếc ô tô” trích trong cuốn “117 mẩu chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2007, nội dung bài viết như sau:

Đôi dép của Bác “ra đời” vào năm 1947, được “chế tạo” từ một chiếc lốp ô tô quân sự của thực dân Pháp bị bộ đội ta phục kích tại Việt Bắc.

Đôi dép đo cắt không dày lắm, quai trước to bản, quai sau nhỏ rất vừa chân Bác.

Trên đường công tác, Bác nói vui với anh em cán bộ đi cùng:

          - Đây là đôi hài vạn dặm trong truyện cổ tích ngày xưa. Đôi hài thần đất, đi đến đâu mà chẳng được.

          Chẳng những khi “hành quân” mà cả mùa đông, Bác đi thêm đôi tất cho ấm chân, tiếp khách trong nước, khách quốc tế vẫn thường thấy Bác đi đôi dép ấy.

Gặp suối hoặc trời mưa trơn, bùn nước vào dép khó đi, Bác tụt dép xách tay. Đi thăm bà con nông dân, sải chân trên các cánh đồng đang cấy, đang vụ gặt, Bác lại xắn quần cao lội ruộng, tay xách hoặc nách kẹp đôi dép…

          Mười một năm rồi vẫn đôi dép ấy… Các đồng chí cảnh vệ cũng đã đôi ba lần “xin” Bác đôi dép nhưng Bác bảo “vẫn còn đi được”.

          Cho đến lần đi thăm Ấn Độ, khi Bác lên máy bay, ngồi trong buồng riêng thì anh em lập mẹo giấu dép đi, để sẵn một đôi giầy mới…

          Máy bay hạ cánh xuống NiuĐêli. Bác tìm dép. Anh em thưa:

          - Có lẽ đã cất xuống khoang hàng của máy bay rồi…Thưa Bác…

          Bác ôn tồn nói:

          - Bác biết các chú cất dép của Bác đi chứ gì. Nước ta còn chưa được độc lập hoàn toàn. Nhân dân ta còn khó khăn. Bác đi đôi dép cao su nhưng bên trong lại có đôi tất mới thế là đủ lắm mà vẫn lịch sự…

Thế là các ông “tham mưu con” phải trả lại dép để Bác đi vì dưới đất chủ nhà đang nóng lòng chờ đợi…

Trong suốt thời gian ở Ấn Độ, các chính khách, nhà báo, quay phim, chụp ảnh lại rất quan tâm đến đôi dép của Bác. Họ cúi xuống sờ nắn quai dép, thi nhau bấm máy từ nhiều góc độ, ghi ghi chép chép… làm anh em cảnh vệ lại phải một phen xem chừng và bảo vệ “đôi hài thần kỳ” ấy.

Năm 1960, Bác đến thăm một đơn vị Hải quân nhân dân Việt Nam. Vẫn đôi dép “thâm niên ấy”, Bác đi thăm nơi ăn, chốn ở, trại chăn nuôi của đơn vị. Cán bộ và chiến sĩ rồng rắn kéo theo, ai cũng muốn chen chân, vượt lên để được gần Bác, Bác vui cười nắm tay chiến sĩ này, vỗ vai chiến sĩ khác. Bỗng Bác đứng lại:

          - Thôi, các cháu dẫm làm tụt quai dép của Bác rồi…

          Nghe Bác nói, cả đám dừng lại cúi xuống yên lặng nhìn đôi dép rồi lại ồn ào lên:

          - Thưa Bác, cháu, để cháu sửa…

          - Thưa Bác, cháu, cháu có “rút dép” đây…

          Nhao nhác, ầm ĩ như thế, nhưng đồng chí cảnh vệ chỉ đứng cười vì biết đôi dép của Bác đã phải đóng đinh rồi; có “rút” cũng vô ích…

Bác cười nói:

          - Cũng phải để Bác đến chỗ gốc cây kia, có chỗ dựa mà đứng đã chứ!

          Bác “lẹp xẹp” lết đôi dép đến gốc cây, một tay vịn vào cây, một chân co lên tháo quai dép ra, “thách thức”:

- Đây, cháu nào giỏi thì chữa hộ dép cho Bác...

          Một anh nhanh tay giành lấy chiếc dép, giơ lên nhưng ngớ ra, lúng túng. Anh bên cạnh liếc thấy, “vượt vây” chạy biến....

          Bác phải giục:

          - Ơ kìa, ngắm mãi thế, nhanh lên cho Bác còn đi chứ. Anh chiến sĩ lúc nãy chạy đi đã trở lại với chiếc búa con, mấy cái đinh:

          - Tôi, để tôi sửa dép...

          Mọi người giãn ra. Phút chốc, chiếc dép đã được chữa xong.

Những chiến sĩ không được may mắn chữa dép phàn nàn:

          - Tại dép của Bác cũ quá. Thưa Bác, Bác thay dép đi ạ!...

Bác nhìn các chiến sĩ nói:

          - Các cháu nói đúng... nhưng chỉ có đúng một phần....Đôi dép của Bác cũ nhưng nó chỉ mới tụt quai. Cháu đã chữa lại chắc chắn cho Bác thế này thì còn “thọ” lắm! Mua đôi khác chẳng đáng là bao, nhưng khi chưa cần thiết cũng chưa nên...Ta phải tiết kiệm vì đất nước ta còn nghèo...

            Đôi dép cá nhân đã vậy, còn đôi dép “ô tô” của Bác cũng thế. Chiếc “Pa-biết-đa” sản xuất tại Liên Xô Bác vẫn đi, đã cũ, văn phòng xin “đổi” xe khác, “đời mới” hơn, tốt hơn, nhưng Bác không chịu:

          - Xe của Bác hỏng rồi à?

          Anh em thưa rằng chưa hỏng, nhưng muốn thay xe để Bác đi nhanh hơn, êm hơn. Bác nói:

          - Ai thích nhanh, thích êm thì đổi....

          Hôm sau đến giờ đi làm, không biết là xe hỏng thật hay “ai” xui mà Bác đứng đợi bên xe  mà xe cứ “ì” ra. Bác cười bảo đồng chí lái xe:

Máy móc có trục trặc, chú cứ bình tĩnh sửa. Sửa xong Bác cháu ta đi cũng kịp...

          Vài phút sau, xe nổ máy...

          Bác lại cười nói với đồng chí lái xe, cảnh vệ:

- Thế là xe vẫn còn tốt!

Kính thưa các đồng chí!

Mẫu chuyện tôi vừa đọc khiến chúng ta không khỏi xúc động vì đức độ và nhân cách của Người, đã tô đậm thêm hình ảnh của một vị lãnh tụ gần gũi với Nhân dân, một Chủ tịch nước với hành trang giản dị như hành trang của bao con người bình thường khác, bởi Bác không chỉ sống cho riêng mình. Đặc biệt, mẫu chuyện đã dạy cho ta những bài học quý, đó là nếp sống giản dị, tiết kiệm, hoà đồng với mọi người, khiêm tốn, không quan liêu, không xa hoa lãng phí hay đòi hỏi hưởng thụ. Đó là đức tính hy sinh, không phô trương hình thức, giành những khó khăn, thiệt thòi về bản thân để lo cho Nhân dân, lo cho đất nước.

Mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay có thể không đạt được những điều phi thường như Bác, nhưng chí ít, nếu biết phấn đấu nỗ lực, chúng ta có thể học và làm được những điều bình thường của Bác, mà trước hết đó là tính tiết kiệm và đời sống giản dị. Tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiền bạc, phải tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái lớn, không xa xỉ, hoang phí, không bữa bãi, phô trương hình thức. Học Bác để mỗi người tự soi rọi sửa chữa những khuyết điểm trong nói, viết và làm, trên các lĩnh vực công tác, học tập và trong đời sống sinh hoạt. Học Bác, để mỗi người xây dựng cho mình nếp sống bình dị, khiêm tốn, sống mình vì mọi người, mọi người vì mình và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, làm tốt mọi công việc của người công dân đối với gia đình, cộng đồng, xã hội.

Trong thời gian qua, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân viên cơ quan Hội Chữ thập đỏ huyện thường xuyên rèn luyện lối sống giản dị, thực hành tiết kiệm, có tác phong gương mẫu, bố trí, sắp xếp thời gian, công việc khoa học. Trong chi tiêu nội bộ, luôn cân nhắc từng mục chi cho phù hợp, tránh lãng phí; thực hiện việc tiết kiệm chi hằng năm theo quy định. Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm quy chế văn hóa nơi công sở, sử dụng hiệu quả thời gian làm việc gắn với việc thường xuyên nghiên cứu, chủ động học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm để đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.

Hội đã tích cực chủ động trong việc tham mưu với lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện thực hiện tốt chức năng nhân đạo, từ thiện như kêu gọi vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài huyện tham gia tích cực các phong trào, các cuộc vận động của Hội, trong 6 tháng đầu năm 2017: Thực hiện phong trào “Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam” Xuân Đinh Dậu 2017, toàn huyện vận động được 3.543 phần quà trị giá 1.130,14 triệu đồng, Hội đã trao trực tiếp và làm cầu nối để các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trao quà cho 1.625 hộ gia đình nghèo, 91 hộ gia đình có nạn nhân chất độc da cam và 1.827 hộ có hoàn cảnh khó khăn trong huyện vui Xuân đón Tết; thực hiện Cuộc vận động “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo”, Hội đã vận động và trợ giúp thường xuyên 174 địa chỉ, trị giá 173,169 triệu đồng; trợ giúp đột xuất 732 đối tượng khó khăn, trị giá 288,141 triệu đồng; trao 123 suất học bổng cho học sinh nghèo, khó khăn vượt khó học giỏi; xây 02 nhà Chữ thập đỏ,…

Học tập dưới cờ các mẫu chuyện về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là những mẫu chuyện, bài viết về thực hành tiết kiệm, thời gian đến, từng cán bộ, đảng viên và nhân viên Hội Chữ thập đỏ huyện thường xuyên soi rọi lại mình, để khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm trong nói, viết và làm trên các lĩnh vực công tác, học tập, sinh hoạt. Mỗi người tự xây dựng cho mình nếp sống giản dị, khiêm tốn, sống mình vì mọi người, mọi người vì mình và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đồng thời, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các ngành, đoàn thể liên quan tổ chức vận động nguồn lực, bình xét, lựa chọn đối tượng hưởng lợi đảm bảo, khách quan, công bằng, thiết thực, không trùng lắp; Xác định cách cho còn quý hơn của cho nên Hội Chữ thập đỏ luôn tranh thủ thời gian, nhanh chóng tổ chức đi thăm hỏi trực tiếp, động viên kịp thời và trợ giúp những đối tượng bị tổn thương vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hoà nhập cộng đồng, góp phần to lớn trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, tiếp tục thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Phải xuất phát từ tình yêu thương nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khỏe của nhân dân và làm mọi việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”," Người hội viên Chữ thập đỏ phải thực sự vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ, không nên thiên về hình thức, tránh thái độ ban ơn".

 

 

4- BÀI VIẾT: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ "NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM"

(do Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện trình bày vào ngày 07/8/2017)

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên 4 phẩm chất đạo đức cơ bản của người cách mạng đó là: Trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng. Để rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, Bác đưa ra 3 nguyên tắc xây dựng và thực hành đạo đức trong xã hội của mỗi cá nhân và suốt đời không ngừng rèn luyện để làm gương cho cán bộ, đảng viên và quần chúng: Nói đi đôi với làm phải nêu gương về đạo đức; xây đi đôi với chống phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

Sinh thời, Người thường căn dặn cán bộ, đảng viên chúng ta: nói cái gì phải cho dân tin, nói và làm phải nhất quán. Với quan niệm đó, trong suốt cuộc đời mình, Người đã thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ "Nói đi đôi với làm". Sức thuyết phục mạnh mẽ trong tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là ở chỗ: nói luôn đi đôi với làm, dù việc lớn hay nhỏ, tự mình phải làm gương trước. Tấm gương "Nói đi đôi với làm" của Bác bắt nguồn từ lòng dạ trong sáng, chính tâm, thật sự nêu gương của Người.

Khi nước nhà mới giành độc lập năm 1945, cách mạng Việt Nam đứng trước muôn vàng khó khăn "Thù trong, giặc ngoài", Bác và Đảng ta đã đưa ra những chủ trương hết sức đúng đắn, kịp thời đẩy lùi những khó khăn. Để giải quyết nạn đói trên miền Bắc, Người đề nghị toàn dân tiết kiệm gạo để giúp đồng bào bị đói và Người gương mẫu thực hiện trước: "Lúc chúng ta mang bát cơm lên mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ chúng ta không khỏi động lòng, vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo".

Năm 1946, để tăng cường sức khỏe cho nhân dân, Bác kêu gọi toàn dân tập thẻ dục. Bản thân Người là tấm gương "Tự tôi ngày nào cũng tập".

Về nơi ở, sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội, Người không ở căn nhà to lớn của viên toàn quyền Đông Dương mà chọn ở ngôi nhà của người công nhân thợ điện. Mùa hè miền Bắc oi bức, nhưng Bác chỉ dùng quạt lá cọ để "dành điện phục vụ cho sản xuất, phục vụ sinh hoạt cho nhân dân". Thương Bác các cán bộ ngoại giao gửi biếu Bác chiếc điều hòa nhiệt độ, nhưng Người không dùng mà đề nghị chuyển cho các đồng chí thương, bệnh binh.

Đó là một trong số rất nhiều câu chuyện kể về sự nêu gương của Bác Hồ kính yêu của chúng ta về "Nói đi đôi với làm" không thể kể, liệt kê hết được. Thật sự cho đến hôm nay, Những lời dạy của Người về "Nói đi đôi với làm" vẫn còn nguyên giá trị. Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần lời dạy của Người về "Nói đi đôi với làm", phải nâng cao đạo đức cách mạng, tăng cường phòng, chống và khắc phục tình trạng nói không đi đôi với làm; phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Bởi vì, bất kỳ công việc gì dù lớn hay nhỏ, phức tạp hay đơn giản nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. Mặc khác, "Nói đi đôi với làm" phải thực hiện đồng bộ, nhất quán từ trên xuống, đồng thời đề cao vai trò của người đứng đầu ở các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị.

Thực tiễn trong những năm qua, cơ quan Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện luôn chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và nguyên tắc xây dựng, thực hành đạo đức "Nói đi đôi với làm" nói riêng trong toàn thể cán bộ, đảng viên, nhân viên. Tập thể cơ quan luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất cao trong lời nói và việc làm, ra sức rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Hàng năm triển khai cho mỗi cán bộ, đảng viên, nhân viên viết bản đăng ký làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác, qua đó cuối năm đánh giá lại những việc đã làm được, những tồn tại, hạn chế để có hướng khắc phục. Chi bộ luôn mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng, không có tình trạng chuyên quyền độc đoán, lười biếng, háo danh, nói một đằng làm một nẻo hoặc nói không đi đôi với làm; đẩy mạnh công tác tự phê bình và phê bình, đề cao sự gương mẫu của người đứng đầu; luôn chủ động tích cực, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm trong thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt chức năng tham mưu lãnh đạo UBND huyện về quản lý Nhà nước trên lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện.

Thời gian đến, cơ quan Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên và coi đây là nhiệm vụ cơ bản xuyên suốt để tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành động theo tư tưởng của Bác về "Nói đi đôi với làm"; nêu cao tinh thần đoàn kết, đẩy mạnh công tác tự phê bình và phê bình, kịp thời rút kinh nghiệp nhằm xây dựng đức tính trung thực, thẳng thắn, dám nghĩ, dám làm của cán bộ, đảng viên; ra sức học tập tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, thực hiện đúng những gì đã nói, làm tốt những việc cần làm, nên làm; đổi mới phong cách, lề lối làm việc đảm bảo dân chủ, khoa học. Thực hiện tốt hơn nữa chức năng tham mưu lãnh đạo UBND huyện về quản lý Nhà nước trên lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện. Góp phần xây dựng huyện Tây Hòa đạt chuẩn Nông thôn mới vào cuối năm 2018.

 

5- BÀI VIẾT "TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO"

(Cơ quan Thanh tra huyện trình bày vào sáng thứ 2 ngày 14/8 /2017)

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - một bản anh hùng ca, một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, về phẩm chất cộng sản kiên trung, về trí tuệ uyên bác, đạo đức cách mạng trong sáng. Công lao của Bác với dân tộc ta như non cao, biển rộng. Người đã gắn bó và hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân đến hơi thở cuối cùng. Người luôn nhấn mạnh đến việc phát huy vai trò của người dân trong việc kiểm soát các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước, coi đó là phương thức kiểm soát có hiệu quả nhất. Giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chính là một cách gián tiếp thực hiện quyền giám sát của công dân đối với Nhà nước.

Lúc sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại hoặc vì chưa hiểu rõ chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ càng được củng cố tốt hơn..”.

Lời dặn dò trên của Bác đã thể hiện một cách nhìn nhận sâu sắc về bản chất và ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đặc biệt, đối với cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo phải luôn ghi nhớ lời dạy của Bác.

Ngẫm lại những điều căn dặn của Hồ Chủ Tịch, nó không chỉ thể hiện một cách nhìn khách quan, toàn diện mà hơn thế nữa nó là biểu hiện cụ thể tư tưởng của Người “Dù bất luận thế nào, việc của người dân cũng thuộc về trách nhiệm của Nhà Nước. Nhà Nước sinh ra để phục vụ dân, cán bộ, đảng viên phải là công bộc của dân. Dân bị oan ức là do cán bộ, chính quyền làm sai; dân chưa hiểu là do cán bộ, chính quyền chưa làm cho họ hiểu. Vì vậy chính quyền có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, khúc mắc đó”.

Cũng như công tác giải quyết khiếu nại, công tác giải quyết tố cáo đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận một cách toàn diện, sâu sắc ngay từ những ngày đầu lập nước. Người đã nhận thức đầy đủ nguy cơ về sự thoái hóa của những người nắm quyền lực và đã kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện này. Vì vậy, không chỉ với khiếu nại mà với tố cáo cũng cần phải được xem xét và giải quyết kịp thời, kẻ vi phạm phải bị xử lý nghiêm khắc, có như thế mới giữ vững kỷ cương phép nước.

Với Hồ Chủ tịch, lợi ích của nước, của dân là trên hết, việc của dân là việc hàng đầu, những khiếu nại tố cáo của dân cần phải được xem xét thấu tình, đạt lý, thậm chí người dân không kêu nài cũng phải chủ động kiểm tra để xem ý kiến người dân thế nào, có thiệt thòi, thắc mắc gì không. Việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo của dân và gắn với nó là việc khôi phục kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đồng thời xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật những người có hành vi sai phạm, sẽ củng cố niềm tin yêu của nhân dân vào chính quyền, vào chế độ, vào các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm cho mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Trong bầu trời này không gì quí bằng nhân dân. Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Chính vì vậy, Người luôn quan tâm đến việc củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân và coi đó là nguồn sức mạnh vô địch đánh thắng mọi kẻ thù.

Những tư tưởng, lời chỉ bảo, căn dặn của Bác cho đến ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Trong lúc Đảng ta đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thì tư tưởng, lời chỉ bảo, căn dặn đó của Người càng sâu sắc và thấm nhuần hơn trong mỗi một cán bộ, công chức chúng ta. Ngay bây giờ và hơn lúc nào hết các cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức phải làm tốt công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân nhanh chóng, kịp thời, khách quan, đúng quy định pháp luật, hạn chế đơn phát sinh tồn động kéo dài xảy ra, đơn thư khiếu nại vượt cấp; một mặt nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, mặt khác nhằm ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, tạo sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội ngày càng phát triển.

Thấm nhuần lời căn dặn của Người qua những bài viết, câu chuyện về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thời gian qua, chi bộ, cơ quan Thanh tra huyện luôn chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất cách mạng, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên. Qua đó, từng cá nhân luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, làm việc có nguyên tắc, kỷ cương, có năng lực, kinh nghiệm thực tiễn. Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo luôn được chi bộ, cơ quan chú trọng; coi công tác tiếp công dân, lắng nghe, tiếp thu các ý kiến, kiến nghị và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng không những của cơ quan mà là của cả hệ thống chính trị.

Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách của Bác trong thời gian đến, chi bộ và cơ quan thanh tra sẽ không ngừng phấn đấu, rèn luyện, học tập nâng cao nhận thức về mọi mặt để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nhất là rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, kiên quyết chống mọi biểu hiện “tự diễn biến’’, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Chủ động hơn nữa trong công tác tham mưu Huyện ủy, UBND huyện trong việc phối hợp với các cơ quan chuyên môn và UBND các xã, Thị trấn có liên quan, tiến hành kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị hợp pháp của công dân có tính chất bức xúc, tồn đọng, có kế hoạch tập trung giải quyết dứt điểm. Tăng cường công tác đối thoại trực tiếp với người dân để đảm bảo các vụ việc được giải quyết một cách công khai, hiệu quả. Bên cạnh đó, chú trọng công tác phối hợp tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo ngay tại cơ sở, đi đôi với việc thực hiện giải quyết minh bạch các chế độ chính sách theo đúng quy định của pháp luật. Góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

 

6- CHUYỆN KỂ: "THÁNG TÁM NĂM 1945 Ở HÀ NỘI" (Trích từ cuốn 117 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Hà Nội 2007.

(Do cơ quan Hội Nông dân huyện trình bày vào sáng ngày 21/8/2017), tải toàn nội dung chuyện kể.

 

Chủ tịch Hồ chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, Người là một bản anh hùng ca, một tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước, về phẩm chất Cộng sản, về trí tuệ yên bác, đạo đức cách mạng trong sáng. Suốt cả cuộc đời, Người đã hi sinh cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì độc lập, tự do, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân và cho toàn nhân loại; là người Cộng sản Việt Nam đầu tiên tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê nin vào nước ta; là người sáng lập, xây dựng và rèn luyện Đảng ta thành một khối vững mạnh, trong sạch. Trải qua những chặng đường lịch sử, vẻ vang của dân tộc. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong buổi chào cờ sáng hôm nay được sự phân công của lãnh đạo cơ quan tôi xin được trình bày câu chuyện "Tháng tám năm 1945 ở Hà Nội", Trích từ cuốn: 117 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng BTG TW. Hà Nội – 2007.

Câu chuyện có nội dung như sau:

 

Đầu năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội khởi nghĩa giành chính quyền, rồi lần lượt đến các tỉnh khác trong cả nước. Cuối tháng 8 năm 1945, Thường vụ Trung ương quyết định đưa Bác về Thủ đô Hà Nội để lãnh đạo, giữ vững và củng cố chính quyền non trẻ. Lúc ấy, Bác ốm và rất gầy. Chúng tôi mua ít tim gan nấu cháo cho Bác. Nhưng có thể do không may mua phải tim của lợn gạo nên Bác lại lên cơn sốt cao. Trên đường về Hà Nội có lúc mệt quá, Bác không đi được, anh em dùng vải và đòn tre làm cáng. Nằm trên cáng, người hầm hập nhưng Bác vẫn thấy vui vì đi tới đâu cũng thấy cờ đỏ sao vàng và đồng bào hào hứng hô vang: ''Ủng hộ Việt Minh'', chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm''. Chiều 25 tháng 8, về đến ngoại thành Hà Nội,  Bác dừng lại ở làng Phú Gia. Chiều tối chủ nhật, ngày 26 tháng 8 năm 1945 đồng chí Trường Chinh đến đón Bác. Hà Nội hừng hực khí thế cách mạng. Khắp phố phường tràn ngập niềm hân hoan với cờ đỏ sao vàng. Ít ai để ý đến một chiếc xe cũ, màu đen chở Bác chạy từ phía Chèm dọc theo đê Yên Phụ, xuống dốc Hàng Than qua phố Hàng Giấy rồi rẽ Hàng Mã về đến trước số nhà 35 Hàng Cân. Xe đưa Bác vào cổng sau, rồi Bác lên thẳng gác 2 nhà 48 phố Hàng Ngang. Đây là ngôi nhà 3 tầng của ông Trịnh Văn Bô, một thương gia lớn của Hà Nội và là cơ sở của cách mạng. Nhà xây chắc chắn, rất tiện cho công tác bảo vệ. Tầng l và tầng 3 chủ nhà dành để ở và bán hàng. Còn tầng 2 dành cho cách mạng. Lúc này, chủ nhà chưa biết người cách mạng đó chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đi lên, đi xuống nhiều, chủ nhà chỉ thấy một cụ già dáng người gầy nhưng nhanh nhẹn, có đôi mắt sáng lạ thường. Sau này chủ nhà mới biết ngôi nhà của mình có vinh dự được đón tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay chiều tối hôm sau, ngày 27 tháng 8, tôi (tức đ/c Vũ Kỳ) được Trung ương chọn làm thư ký cho Bác. Bác thân mật hỏi tôi:

- Chú tên gì?

Tôi thưa:

- Cháu tên Cần ạ (tên của tôi hồi đó).

Có lẽ tôi xúc động nói không rõ nên Bác nghe thành Cẩn, Bác trìu mến bảo:

- Cẩn à, Cẩn là cẩn thận. Rất tốt.

Sáng hôm sau, Bác lại hỏi tên tôi, tôi thưa rất rõ:

- Cháu là Cần ạ.

Bác tỏ ra rất vui và nói ngay:

- Cần thì càng tốt. Cần là cần, kiệm, liêm, chính.

Đó cũng là niềm mong muốn của Bác về phẩm chất, đạo đức của người cán bộ mà những năm sau này mỗi dịp gặp cán bộ, mỗi khi đến thăm các lớp huấn luyện, Bác đều căn dặn mọi người phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính.

Trong căn nhà 48 phố Hàng Ngang chủ nhà dùng căn phòng phía sau trên tầng 2 làm phòng ăn. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ dài và to, quanh bàn có 8 chiếc ghế tựa đệm mềmBác dùng bàn này để làm việc với các đồng chí Thường vụ Trung ương. Cuối phòng kê một chiếc bàn tròn. Nơi đây Bác dùng làm bàn ăn. Trong cuộc sống hàng ngày, Bác không dành cho mình một sự ưu đãi nào. Bác là tấm gương sáng về đức tính giản dị của người cán bộ cách mạng. Bác thường ngồi làm việc trên chiếc bàn kê sát tường bọc dạ xanh màu lá mạ vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ Bác mang từ chiến khu về. Trong những ngày này, Bác dành nhiều thời gian và tâm trí cho việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Hàng ngày Bác dậy sớm tập thể dục sau đó ngồi vào bàn và đánh máy luôn bản thảo. Ban đêm, Bác cũng thức rất khuya, trầm ngâm suy nghĩ về những nội dung trong bản thảo Tuyên ngôn Độc lập. Sáng 29 tháng 8, Bác chuyển đến Bắc Bộ phủ làm việc, ở đây Bác tiếp tục hoàn chỉnh bản Tuyên ngôn Độc lập. Sau mấy ngày sốt, tuy sức khoẻ giảm sút trông thấy, nhưng sức làm việc của Bác thì vẫn phi thường. Đêm ngày 29 tháng 8, Bác thức khuya hơn bình thường vì ngày 2 tháng 9 đã cận kề. Bác viết rồi lại sửa. Những lúc suy nghĩ căng thẳng nhất Bác thường đặt tay lên trán và đôi mắt sáng khi thì nhìn những dòng chữ như có hồn vừa được viết ra, khi thì nhìn vào đêm tối như tìm một điều gì đó mà chỉ riêng Bác mới hiểu.

Cho đến ngày 30 tháng 8, bản Tuyên ngôn Độc lập được dự thảo xong. Bác đưa ra tranh thủ ý kiến các đồng chí Trung ương.

Sáng 31 tháng 8, Bác hỏi tôi:

- Chú Cần có biết Quảng trường dự định họp mít tinh như thế nào không?

Rồi Bác bảo tôi vẽ phác bản đồ cho Bác. Xem bản đồ xong. Bác hỏi:

- Liệu được bao nhiêu người?

Tôi thưa với Bác:

- Được vài chục vạn người đấy ạ.

Bác hỏi tiếp:

- Thế các chú định bố trí để đồng bào đi vệ sinh ở đâu?

Tôi sững sờ trước câu hỏi của Bác và lúng túng không biết trả lời thế nào, thì Bác nói tiếp:

- Việc nhỏ, nhưng nếu không chú ý bố trí cho tốt thì rất đễ mất trật tự. Chú có biết không, ở Hương Cảng, công nhân lao động biểu tình thì chính quyền Anh chưa giải quyết, nhưng khi công nhân công ty vệ sinh đình công thì chính quyền Anh phải giải quyết ngay. Vì đã có tuần giải quyết chậm, rác rưởi bẩn thỉu ngập đường phố.

Tiếp đó, Bác dặn tôi nói với Ban tổ chức nếu trời có mưa thì kết thúc míttinh sớm hơn, tránh cho đồng bào khỏi bị ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Thật hạnh phúc biết bao cho nhân dân Việt Nam khi được biết vị đứng đầu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ chỉ trước khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vài giờ vẫn chăm lo đến những cái nhỏ nhất trong đời sống.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi: khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tại Quảng trường Ba Đình, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, đến đoạn tố cáo tội ác của phát xít Nhật, cả biển người im phăng phắc. Nghĩ đồng bào nghe mình nói tiếng Nghệ An không rõ và quên cả mình là Chủ tịch nước đang trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, Bác ngừng đọc cất tiếng hỏi rất thân mật:

- Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng trả lời: “Có” như sấm dậy. Chưa bao giờ và chưa ở đâu, người ta lại thấy tình cảm giữa lãnh đạo cao nhất và dân chúng gần gũi và thân thương đến thế! Kết thúc cuộc mít tinh, ra về nhưng mọi người vẫn như nhìn thấy ánh mắt, vẫn như nghe thấy giọng nói ấm áp và hiền hậu của Bác.

 

Cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương “Tận trung với nước, tận hiếu với dân”, không một phút ngơi nghỉ, suốt đời suy nghĩ, lo lắng, chăm lo cho nước, cho dân. Việc đẩy mạnh công tác giáo dục và tuyên truyền tư tưởng “tận trung với nước, tận hiếu với dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay sẽ khuyến khích mỗi cán bộ, đảng viên tuyệt đối trung thành với lợi ích của đất nước, của nhân dân, đặt độc lập dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc gia lên trên hết và trước hết.

Để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là người công bộc tận tụy, trung thành của nhân dân thì mỗi cán bộ, công chức phải hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của mình theo đúng Luật cán bộ công chức. Biểu hiện cụ thể là: Làm tốt những công việc hàng ngày, nhất là những việc liên quan trực tiếp tới đời sống của người dân.

Về phong cách nêu gương, theo Bác Hồ, trước hết phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói phải đi đôi với làm. Cần nêu gương trên cả ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hằng ngày; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng; đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để việc công lên trên, lên trước việc tư). Triết lý sâu xa của Hồ Chí Minh là, cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc đều do mồ hôi, nước mắt của dân mà ra, nên chúng ta phải đền bù xứng đáng cho dân. Cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng đạo đức ấy đã tạo nên một phong cách nêu gương, tự giác gương mẫu của Hồ Chí Minh, Người suốt đời phấn đấu, hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị, cả cuộc đời của Người là một tấm gương lớn cho các thế hệ con cháu mãi mãi noi theo.

Thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong những năm qua cán bộ, công chức Hội Nông dân huyện luôn quan tâm làm sao để tìm các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Hội và chất lượng hội viên bằng những việc làm hoạt động cụ thể qua các phong trào thi đua như: Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững, Phong trào nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới, Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng - an ninh…

Trên cơ sở đó, Hội Nông dân huyện cùng với Hội Nông dân các xã, thị trấn đã tích cực đổi mới phương thức hoạt động; gắn kết chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục, vận động, đoàn kết, tập hợp nông dân vào tổ chức Hội đi đôi với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ hội viên, nông dân giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống cho hội viên, nông dân nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, ý thức cảnh giác cách mạng; bằng những việc làm cụ thể, thực tiễn, sâu sát như cùng với hội viên, nông dân bàn định hướng phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu bằng ý chí tự lực, tự cường vươn lên của hội viên, nông dân, góp phần vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Hội Nông dân tỉnh Phú Yên, Hội Nông dân huyện tham mưu với Hội Nông dân tỉnh và Thường trực Huyện ủy về việc phê duyệt Đề án thành lập quỹ hỗ trợ nông dân huyện Tây Hòa giai đoạn 2017-2025, nhằm thực hiện tốt vai trò, chức năng của tổ chức Hội Nông dân trong việc hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập xoá đói giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, tăng nhiều hộ khá, giàu vào năm 2025, tăng cường thu hút và tập hợp nông dân vào tổ chức Hội, góp phần cùng với cả hệ thống chính trị phấn đấu xây dựng huyện nhà đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2018.

Trong thời gian đến, Hội Nông dân huyện tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cơ sở Hội tổ chức, triển khai, quán triệt và tuyên truyền thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, chuyên đề toàn khóa, chuyên đề học tập năm 2017 “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về phòng, chống suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa” gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đến cán bộ, hội viên, nông dân cùng thực hiện; bằng việc làm cụ thể và thường xuyên của cán bộ, hội viên ở các cấp hội, như đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình của tỉnh, của Huyện ủy và UBND huyện bằng nhiều hình thức phù hợp, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức; tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua cụ thể: Đưa các chuyên đề, tiêu chí vào tuyên truyền sinh hoạt chi, tổ hội, hàng tháng, quý, định kỳ và đột xuất, để bàn kế hoạch triển khai vận động hội viên, nông dân tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn như: Giao thông thủy lợi, nước sạch, vệ sinh môi trường nông thôn, bảo hiểm y tế, phòng, chống tệ nạn xã hội, phổ biến thực hiện phối hợp các mô hình tổ nhân dân tự quản, các mô hình kinh tế tập thể, khơi dậy các làng nghề, sản phẩm... góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội của huyện nhà.

 

 

7- CHUYỆN KỂ: "CHIẾC ÁO CỦA BÁC NGÀY 2/9/1945" (Trích từ cuốn "Bác Hồ – Một mẫu mực về sự giản dị và khiêm tốn" nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội năm 2014.

(Do cơ quan Phòng Tư pháp huyện trình bày vào ngày 28/8/2017), tải toàn nội dung chuyện kể.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh  - vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc ta. Người đã đi xa, nhưng cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức của Người, đã trở thành bất tử. Người là kết tinh và toả sáng những gì ưu tú nhất, tốt đẹp nhất của trí tuệ và đạo đức Việt Nam; là biểu hiện sinh động nhất về sự mẫu mực, giản dị và khiêm tốn. Trong những điều kiện khó khăn của cách mạng Việt Nam, dù ở nơi đâu, Bác cũng luôn giữ được tâm thế bình thản, tự tại, một lối sống nặng tình đồng chí, đồng bào để vượt qua thử thách, gian nan của những ngày đầu cách mạng.

Nhân buổi chào cờ đầu tuần sáng hôm nay được sự phân công của Lãnh đạo cơ quan, Tôi xin trình bày câu chuyện về chiếc áo của Bác ngày 02/9/1945 được trích trong cuốn “Bác Hồ - Một mẫu mực về sự giản dị và khiêm tốn” của nhà xuất bản chính trị Quốc gia – sự thật Hà Nội năm 2014. Nội dung câu chuyện kể như sau:

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Hồ Chủ Tịch về đến thôn Gạ (Phú Thượng – Hà Nội), nghỉ ở đây một ngày. Hôm sau Người được Trung ương và Thành uỷ bố trí, đến ở tại gác 2, số nhà 48 Hàng Ngang (nhà của ông Trịnh Văn Bô - một thương gia yêu nước, cơ sở tin cậy của cách mạng).

Về đến Hà Nội, Bác rất gầy yếu, sau những trận ốm và phải đi xa, Tuy vậy, các cán bộ xung quanh Bác, vẫn thấy đôi mắt của Người, luôn tỏa sáng rực. Bà Bô, nữ chủ nhân của ngôi nhà 48 Hàng Ngang, xúc động kể lại: Bác, từ chiến khu về chỉ có một đôi dép cao su, nhãn hiệu con hổ trắng, chiếc quần soóc nâu, chiếc áo sơ mi ngắn tay, một chiếc can và chiếc mũ phớt bạc màu. Đêm đêm, Bác thức rất khuya đánh máy chữ. Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, đèn bàn của Ông Cụ mới tắt; nhưng, 5 giờ sáng đã thấy Ông Cụ tập thể dục ngoài ban công.

Hàng ngày, lúc 7 giờ sáng ông Vũ Đình Huỳnh đón Bác ra Bắc Bộ phủ, làm việc đến chiều mới về, 48 Hàng Ngang. Buổi tối, Bác thường xuyên bận, vì phải hội kiến, làm việc với các ông Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt…Sau này bà Bô mới biết rằng, khi tiếng đánh máy chữ vang lên, trong đêm khuya ấy, chính là lúc Bác Hồ đang thảo bản hùng văn, vô giá – Bản Tuyên ngôn lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam mới.

Thời gian này, Hà Nội đang chuẩn bị cờ hoa và cả vũ khí cho ngày trọng đại sắp tới. Tuy đã 91 tuổi, nhưng bà Bô vẫn còn nhớ rõ những ngày tháng hào hùng ấy. Vào khoảng, những ngày 26, 27 tháng 8, tức là khi đã ấn định, Lễ tuyên ngôn vào 02/9/1945, anh em cán bộ mới sực nhớ ra cần phải trang bị mỗi người một bộ quần áo thật tươm lúc ra mắt trên lễ đài, đặc biệt là Hồ Chủ Tịch. Đa số anh em từ chiến khu trở về và kể cả Bác cũng đều mặc những đồ đã cũ sờn hoặc chấp vá tạm bợ. Bà Bô bồi hồi nhớ lại: “Lúc bấy giờ, trong tủ của nhà chúng tôi, có rất nhiều vải (vì là nhà buôn vải vóc), tôi lấy ra mấy súc ka ki để may cho anh em. Ngoài ra trong tủ cũng có hàng chục bộ quần áo, khá sang trọng may sẵn mà ông Bô chưa dùng, nên tôi lấy ra cho các anh mặc tạm trước. Anh nào mặc vừa bộ nào thì dùng bộ nấy, ông Phạm Văn Đồng, ông Võ Nguyên Giáp ... nhưng tầm người như Ông Cụ không hợp bộ nào cả…”.

Gần sát ngày đại lễ, ông bà Bô đã chọn riêng loại vải kaki, cốtlê của Anh và ông Vũ Đình Huỳnh - Nguyên là thư ký lễ tân mang đến xin ý kiến Bác. Bác nói: Tôi mặc xuềnh xoàng thôi. Không len, dạ đắt tiền làm gì, cốt tươm tất giản dị, không phải cà vạt cổ cồn là tốt…

Ông Vũ Đình Huỳnh, chợt nhớ tới một bức ảnh của Xtalin, nên ướm thử với Bác may theo kiểu áo đó, cũng không có cà vạt mà oai vệ. Bác mỉm cười nói: “Nhưng mình có phải là Xtalin đâu”. Cuối cùng ông Vũ Đình Huỳnh mời ông Phú Thịnh - chủ hiệu may có tiếng ở Phố Hàng Quạt tới và trình bày:

Tôi có người nhà là cụ Lý, ở quê ra thăm Thủ đô, tôi muốn cắt vài bộ đồ cho cụ, nhờ anh cắt may kiểu áo bốn túi, mặc kín cổ khi có việc quan trọng, lúc thường nhật thì mở khuy áo thoải mái, đi giày, đi dép đều hợp với cụ Lý nhà tôi.

Ông Phú Thịnh ngẫm nghĩ một lúc, dè dặt nói: “Tôi đã mường tượng ra kiểu áo ấy rồi. Chỉ cần tính toán cái ve áo nhọn hay tù?”. Rồi Ông Phú Thịnh ngắm nghía tấm ảnh Xtalin rồi nói: “Kiểu tướng soái này oách lắm, nhưng không hợp với các cụ người nhà mình. Thôi được, tôi sẽ lo liệu để có bộ áo hợp ý với cụ Lý”. Hai hôm sau, ông Phú Thịnh đem hai bộ quần áo đến, cười ý nhị nói: “Tôi trộm nghĩ, cụ Lý này không phải là lý trưởng, mà có lẽ là một cụ Lý… khác thường” Ông Vũ Đình Huỳnh cười đáp lại, tình cảm tinh tế của ông thợ may.

Hôm sau, lựa lúc Bác tập thể dục, tắm buổi sáng xong, ông Vũ Đình Huỳnh đem bộ quần áo mới vào. Bác ướm thử, ngắm kỹ cổ áo và mỉm cười: “Được, thế này là hợp với mình”. Ông Vũ Đình Huỳnh lúc đó đã rất vui và thầm mỉm cười nghĩ, chỉ trong vài ngày nữa, ông Phú Thịnh sẽ vô cùng sung sướng và ngạc nhiên, vinh dự khi “cụ Lý” mà mình may quần áo cho, lại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đọc Tuyên ngôn Độc Lập tại Quảng trường Ba Đình, để khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

 

Cho dù năm tháng qua đi, nhưng tinh thần của tuyên ngôn độc lập, ngày 02/9 luôn song hành với tên tuổi của vị cha già kính yêu, của dân tộc Việt Nam hôm nay và mai sau. Cuộc đời của Người, là biểu tượng cao đẹp về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu nước, yêu nhân dân tha thiết, một tác phong kiêm tốn, một con người rất đỗi bình dị, kể cả trong ngày trọng đại nhất của mỗi Quốc gia, dân tộc. Người chính là hiện thân về: cách sống, cách nghĩ, cách viết, cách nói, cách làm việc. Người đã để lại cho chúng ta một tấm lòng nhân hậu, một tình cảm chang chứa yêu thương vì nước, vì dân, vì Đảng. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chúng ta nguyện, tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc, với giai cấp, phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự: cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư.